Ngày đăng: 22/09/2014 Số lượt xem: 799

Rau VietGAP – Nhìn từ các hoạt động xúc tiến thương mại

VietGAP là cụm từ viết tắt của Vietnamese Good Agricultural Practices có nghĩa là thực hành sản xuất nông nghiệp tốt ở Việt Nam dựa trên 4 tiêu chí được quy định tại Quyết định số 379/QĐ-BNN-KHCN ngày 28/01/2008 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn,

VietGAP là cụm từ viết tắt của Vietnamese Good Agricultural Practices có nghĩa là thực hành sản xuất nông nghiệp tốt ở Việt Nam dựa trên 4 tiêu chí được quy định tại Quyết định số 379/QĐ-BNN-KHCN ngày 28/01/2008 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn,

 

 

Ảnh minh hoạ

Sản phẩm sạch

đó là: Tiêu chuẩn về kỹ thuật sản xuất; An toàn thực phẩm gồm các biện pháp đảm bảo không có hóa chất nhiễm khuẩn hoặc ô nhiễm vật lý khi thu hoạch; Môi trường làm việc mục đích nhằm ngăn chặn việc lạm dụng sức lao động của nông dân; Truy tìm nguồn gốc sản phẩm, tiêu chuẩn này cho phép xác định được những vấn đề từ khâu sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm. Cụ thể là việc quy định rõ những yếu tố chính trong sản xuất nông nghiệp như: Đánh giá và lựa chọn vùng sản xuất, giống và góc ghép, quản lý đất và giá thể, phân bón và chất phụ gia, nước tưới, hóa chất (bao gồm cả thuốc bảo vệ thực vật), thu hoạch và xử lý sau thu hoạch, quản lý và xử lý chất thải, ghi chép, lưu trữ hồ sơ, truy nguyên nguồn gốc và thu hồi sản phẩm...

 

Cái lợi lớn nhất khi người tiêu dùng lựa chọn sản phẩm rau VietGAP là sự an toàn, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm. Bởi các loại rau này được sản xuất và chứng nhận theo một quy trình có sự giám sát nghiêm ngặt nên đạt chất lượng cao hơn rau thông thường, đặc biệt truy nguyên nguồn gốc xuất sứ khi cần thiết.

 

“Trồng rau theo chuẩn VietGAP năng suất có giảm so với trồng rau theo phương pháp truyền thống nhưng giá bán cao hơn nên tính ra hiệu quả kinh tế vẫn đạt. Điều quan trọng là trồng VietGAP đảm bảo an toàn cho cả người trồng và người sử dụng vì ít sử dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật và các loại thuốc tăng trưởng” - ông Trịnh Tấn Ưu - một nông dân trồng rau tại xã Bình Triều, huyện Thăng Bình cho biết.

 

Hiện nay ở Quảng Nam đã có 2 mô hình điểm sản xuất rau an toàn theo tiêu chuẩn VietGAP tại huyện Duy Xuyên và Thăng Bình; 01 mô hình sản xuất dưa hấu VietGAP tại xã Tam Phước – huyện Phú Ninh. Tại thôn Hưng Mỹ, xã Bình Triều, huyện Thăng Bình có Tổ hợp tác sản xuất và tiêu thụ rau sạch Mỹ Hưng. Với diện tích sản xuất gần 3 ha, sản lượng dự kiến 250 tấn/năm với 25 chủng loại rau gồm xà lách, mồng tơi, dền đỏ, cải con, rau thơm các loại... đã tạo thu nhập ổn định cho người dân nơi đây. Đặc biệt, Tổ hợp tác được tổ chức JICA (Nhật Bản) tài trợ xây dựng nhà sơ chế đáp ứng các tiêu chuẩn kỹ thuật. 

 

Cũng theo ông Ưu, nếu trồng lúa thì năng suất khoảng hơn 4 tấn/ha, giá bán hiện nay khoảng 5.000 đồng/kg, mỗi ha nông dân chỉ thu về khoảng 20 triệu đồng. Trong khi đó, nếu trồng các loại rau, nông dân có thể đạt năng suất 25 - 35 tấn/ha, mỗi năm thu hoạch tăng khoảng 5 - 8 lần so với trồng lúa. Với giá bán bình quân từ 4.000 – 5.000 đồng/kg như hiện nay, trừ các khoản chi phí, nông dân có thể thu lãi trên 300 triệu/ha/năm. Riêng gia đình ông, lợi nhuận từ việc trồng rau trên diện tích 2.000 m2 đã đem lại khoản thu nhập 150 triệu đồng/năm.

 

Với mô hình sản xuất dưa hấu VietGAP tại xã Tam Phước, huyện Phú Ninh, sau 3 mùa vụ thực hiện thí điểm, mô hình trồng dưa hấu an toàn theo hướng VietGAP đã mang lại hiệu quả cao, ổn định và nâng mức thu nhập cho các hộ dân tham gia so với cách trồng truyền thống.

 

Lợi ích là vậy, tuy nhiên cái khó nhất của rau VietGAP là việc tiêu thụ sản phẩm, bởi người tiêu dùng chưa quan tâm nhiều đến rau VietGAP, giá bán rau VietGAP cao hơn do phải xử lý sơ chế, đóng gói nên người tiêu dùng e ngại. Bên cạnh đó, doanh nghiệp chưa quan tâm đến sản phẩm rau sạch bởi giá cao và lượng khách hàng còn hạn chế. Mặt khác, người nông dân trồng rau còn manh mún, chưa có vùng rau chuyên canh lớn để đáp ứng nhu cầu khi doanh nghiệp cần, chính sách truyền thông, quảng bá để giới thiệu sản phẩm đến với người tiêu dùng hầu như không có, sản phẩm chưa có nhãn mác hay logo rõ ràng.

 

Để giải bài toán trên, thiết nghĩ các cấp, các ngành và đoàn thể cần tăng cường thực hiện các giải pháp như:

 

Thứ nhất, trước mắt cần hỗ trợ đầu ra cho sản phẩm rau VietGAP tại các huyện bằng các hoạt động thông tin tuyên truyền, hỗ trợ quảng bá xây dựng thương hiệu cho sản phẩm VietGAP, tạo cơ chế thuận lợi để gắn kết giữa khâu sản xuất với thị trường tiêu thụ, tăng cường tuyên truyền quảng bá lợi ích lâu dài của rau được sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP đến người dân, đặc biệt là người dân tham gia buôn bán tại các chợ truyền thống.

 

Thứ hai, lập quy hoạch các vùng sản xuất rau an toàn tập trung, ổn định và chuyên nghiệp, đảm bảo đủ sản lượng rau cung cấp cho nhu cầu của thị trường; xây dựng cơ sở hạ tầng, hỗ trợ chi phí phân tích mẫu và chi phí chứng nhận VietGAP và chi phí xúc tiến thương mại cho nông dân trồng rau.

 

Thứ ba, thực hiện các hoạt động hỗ trợ nhằm khuyến khích, thúc đẩy sản xuất theo quy trình VietGAP như: tập huấn hướng dẫn, chuyển giao kỹ thuật… để nhân rộng các mô hình sản xuất rau theo tiêu chuẩn VietGAP hiện có. Triển khai xây dựng các tổ nhóm, hợp tác xã sản xuất rau; tổ chức các đợt khảo sát học tập mô hình sản xuất chuỗi an toàn, tạo cơ hội cho nông dân có điều kiện học tập, trao đổi kinh nghiệm…

 

Một mô hình liên kết giữa các siêu thị trong khu vực lân cận với người trồng rau theo tiêu chuẩn VietGap ở Quảng Nam là một mô hình cần hướng đến trong việc tìm đầu ra cho sản phẩm. Cơ chế hỗ trợ của nhà nước là làm sao cho doanh nghiệp và người dân có tiếng nói chung trong việc giải quyết bài toán đầu ra ổn định cho rau sạch. Thực hiện được các giải pháp đó sẽ giải quyết được bài toán tiêu thụ sản phẩm cho rau VietGAP.

Theo Báo XTTM

Tin mới nhất